
Tên gọi, danh pháp
Tên tiếng Việt: Oliu
Tên khác: Ô liu; Olive
Tên khoa học: Olea europaea
Đặc điểm tự nhiên
Cây ô liu, là một cây xanh quanh năm hoặc cây bụi có nguồn gốc từ Địa Trung Hải, Châu Á và Châu Phi. Cây ngắn và thấp, không vượt quá 8 – 15 mét, một giống duy nhất bao gồm 40.000 cây, được tìm thấy ở khu vực xung quanh Pisciotta thuộc vùng Campania, miền nam nước Ý, vượt quá con số này, với đường kính thân tương ứng lớn. Các lá có màu xanh và thuôn dài, có kích thước dài 4 – 10 cm chiều dài và 1 – 3 cm chiều rộng. Thân cây có đặc điểm lồi lõm và xoắn.
Hoa ô liu thường có màu trắng và có lông, với đài hoa và tràng hoa có 10 khe, hai nhị, và nhụy hoa, nở thành chùm mọc ra từ nách lá, quả ô liu là một quả nhỏ dài 1 – 2,5 cm khi quả chín, thịt mỏng hơn và nhỏ hơn ở cây mọc dại so với cây ăn quả. Ô liu thu hoạch vào giai đoạn lá cây có màu xanh đến màu tím. Ô liu đen đóng hộp thường được làm thêm màu đen nhân tạo và có thể chứa gluconat sắt hóa học để cải thiện vẻ bề ngoài.
Phân bố, thu hái, chế biến
Rất nhiều giống cây ô liu được biết đến. Các giống ô liu có ảnh hưởng đáng kể đến màu sắc, kích thước, hình dạng và đặc điểm sinh trưởng cũng như chất lượng của dầu ô liu. Giống ô liu có thể được sử dụng chủ yếu để lấy dầu hoặc ăn.
Vì nhiều giống ô liu có khả năng không có quả hoặc gần như vậy, chúng thường được trồng theo cặp với một giống chính duy nhất và một giống thứ cấp được chọn để có khả năng thụ phấn cho cây chính. Trong thời gian gần đây, khoa học đang nổ lực để được hướng đến việc sản xuất các giống cây lai với các đặc tính hữu ích cho nông dân, chẳng hạn như kháng bệnh, tăng trưởng nhanh và cây trồng lớn hơn hoặc phù hợp hơn.
Cây Ôliu trồng nhiều ở các nước ven Địa trung hải trên đất đá sỏi và khô ráo. Cây còn được trồng ở những nơi khác chẳng hạn Trung Mỹ, Hoa Kỳ, Trung Quốc, Úc. Nước ta đã nhập cây Ôliu về trồng nhưng chưa nhân rộng ra được.
Bộ phận sử dụng
Bộ phận sử dụng của Ô liu là vỏ cây, lá và dầu của vỏ quả.
Thành phần hoá học
Ôliu có thành phần gồm chất béo bão hòa và chất béo không bão hòa. Vitamin và khoáng chất: Vitamin E, Đồng, Sắt, Canxi, Natri và nhiều hợp chất hữu cơ khác oleuropein, Hydroxytyrosol, Tyrosol, Axit Oleonalic, Quercetin và ngoài ra Oleocanthal có tác dụng giảm đau giống Aspirin.
Công dụng
Theo y học cổ truyền
Vỏ đắng, chát theo Đông y được dùng thay thế Canhkina. Dầu vỏ quả có tác dụng làm nhầy, dịu và nhuận tràng. Gôm từ thân có tính trị thương. Dầu Ô liu được sử dụng vì có những tính chất lợi mật và hơi nhuận tràng và dùng ngoài để trị và làm dịu cơn đau một số bệnh ngoài da.
Theo y học hiện đại
Ung thư vú
Phụ nữ sử dụng nhiều dầu ô liu hàng ngày trong chế độ ăn uống dường như có nguy cơ mắc ung thư vú thấp hơn so với những người không sử dụng.
Bệnh tim
Sử dụng dầu ô liu trong chế độ ăn hàng ngày dường như có nguy cơ mắc bệnh tim thấp cũng như nguy cơ đau tim thấp hơn so với việc sử dụng loại dầu khác. Hơn nữa, sử dụng dầu ô liu còn giúp giảm cholesterol. Bởi vì, c
















