———————————————–
========
- Thân và chiều cao: Cây thân thảo sống lâu năm, mọc thẳng đứng, không có lông, cao khoảng 50 – 80 cm.
- Lá: Lá mọc so le, xẻ sâu thành 3 – 7 thùy hình trứng.
- Hoa: Hoa nở vào khoảng tháng 5 – 7, thường có màu trắng hoặc hồng nhạt.
- Rễ củ: Bộ phận dùng làm dược liệu chính là rễ củ to, mập (dài 5 – 20 cm, đường kính 1 – 2,5 cm), thường được thu hái khi cây đạt từ 3 – 5 năm tuổi.
- Phân bố & Khí hậu: Cây ưa sáng, ưa ẩm, nguồn gốc từ Trung Quốc, Nhật Bản, Bắc Triều Tiên; tại Việt Nam cây được trồng chủ yếu ở các vùng khí hậu mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai).
- Trong Đông y: Vị đắng, chua, tính mát; có tác dụng dưỡng huyết, bình can, chỉ thống, điều kinh, thư cân. Thường dùng trị huyết hư, đau sườn ngực, kinh nguyệt không đều, mồ hôi trộm.
Trong y học hiện đại: Chứa các hoạt chất chính như paeoniflorin, albiflorin, tinh bột, tanin… giúp giảm đau, chống co thắt cơ trơn, kháng khuẩn và hỗ trợ điều hòa miễn dịch.
-
- Thân: Cây mọc thẳng đứng, chiều cao trung bình từ 50 – 80 cm, thân nhẵn bóng và không có lông.
- Rễ củ: Rễ phát triển thành dạng củ phình to, hình trụ dài, có màu nâu nhạt bên ngoài và thịt màu trắng mịn bên trong. Đây chính là bộ phận chính được sử dụng để làm thuốc (gọi là bạch thược căn).
- Lá: Lá kép mọc so le, xẻ sâu thành 3 – 7 thùy hình trứng thuôn dài, phần cuống lá thường có sắc hơi hồng. Mặt trên lá có màu xanh sẫm, mặt dưới nhạt hơn.
- Hoa: Hoa mọc đơn độc ở đầu cành hoặc nách lá, kích thước rất to (đường kính từ 8 – 12 cm). Hoa thường có màu trắng tinh khôi hoặc hồng nhạt, mang hương thơm dịu và thường nở rộ vào mùa hè (khoảng tháng 5 – 7).
- Khí hậu: Cây ưa khí hậu ôn đới, mát mẻ quanh năm và có độ ẩm cao. Cây có khả năng chịu lạnh tốt nhưng không chịu được nắng gắt kéo dài hay ngập úng.
- Đất đai: Phát triển tốt nhất trên nền đất phù sa pha cát, tơi xốp, giàu mùn hữu cơ và thoát nước nhanh.
- Phân bố tại Việt Nam: Vốn có nguồn gốc từ Trung Quốc và các vùng Đông Á, giống cây này đã được di thực về Việt Nam và trồng thành công tại những vùng núi cao có khí hậu mát mẻ như Sa Pa (Lào Cai) hoặc Đà Lạt.
-
- Thời gian thu hoạch: Cây bạch thược sinh trưởng khá chậm, cần từ 3 – 5 năm trồng mới có thể tiến hành thu hoạch củ. Người ta thường đào củ vào mùa thu khi cây bắt đầu lụi lá, đem rửa sạch, cạo vỏ, luộc chín rồi phơi hoặc sấy khô.
- Tác dụng nổi bật: bạch thược chứa hàm lượng cao hoạt chất paeoniflorin giúp dưỡng huyết, điều hòa kinh nguyệt, chống viêm, giảm đau do co thắt cơ trơn (đau bụng dạ dày, đau bụng kinh) và bảo vệ gan hiệu quả.
========







