Phạm vi bản địa của loài này là ở vùng nhiệt đới Tây Phi, Tanzania đến Nam Phi và tiểu lục địa Ấn Độ đến lục địa Đông Nam Á.
Thường người ta trồng chàm bằng hạt, vào các tháng 2 – 5 và hái cây vào các tháng 6 – 8. Gốc còn lại sẽ nảy nữa và một tháng sau có thể hái lần thứ 2.
Cách chế chàm tiến hành như sau:
Cây hái về còn tươi phải cho ngay vào thùng gỗ hoặc xây gạch. Có nơi chỉ tuổt lấy lá mà chế chàm còn thì bỏ cành. Đổ nước sạch vào rồi chờ cho lên men: Mùa nóng chỉ cần ngâm 2 – 3 ngày, mùa mát phải ngâm tới 5 – 6 ngày. Nhưng thường thời gian cho lên men này vào khoảng 12 giờ ở nhiệt độ 30oC. Sau đó gạn lấy nước và lọc qua sàng để loại bỏ bớt cọng lá. Cho vôi cục vào để kiềm hóa môi trường, thường 100kg cây chàm thì dùng 8 – 10kg vôi. Dùng cành cây hay que khuấy liên tục 4 – 6 giờ để oxy hóa. Dung dịch sẽ nổi bọt lên và ngả màu xanh lam (ta có thể dùng phèn để kết tủa màu chàm). Bột chàm được với ra, ép hết nước, cắt thành từng khúc nhỏ để phơi trong mát cho đến khô. Trong khi phơi có thể có mùi amoniac và mốc. Khi dùng, cạo lớp mốc đó đi.
Với lối dùng vôi cục của đồng bào miền núi, chàm lẫn nhiều tạp chất, cứ 100kg cày, được chừng 3kg chàm. Nhưng nếu làm cẩn thận, thì chỉ được từ 200 – 400g.
Tùy theo cách chế tạo, bột chàm (thanh đại) có độ tinh khiết khác nhau. Thường người ta xác định giá trị của thanh đại bằng cách định lượng indigotin. Loại tốt phải chứa từ 60 – 70% indigotin.